Hiển thị các bài đăng có nhãn cac bai in bao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cac bai in bao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Xuân mới, càng say nồng ví giặm


(TBTCVN) - Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, mỗi người dân xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh) lại rạo rực vui mừng khi được sum vầy bên nhau, hòa chung với không khí hân hoan đón chào năm mới của cả nước.

                                                             Liên hoan Dân ca ví, giặm xứ nghệ

Tết Ất Mùi năm nay là thời điểm càng đặc biệt hơn khi mà dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh - di sản văn hóa độc đáo của xứ Nghệ đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

TBTCVN xin trích ý kiến của các vị lãnh đạo tỉnh Nghệ An, các nhà quản lý và người dân tâm huyết với làn điệu dân ca ví giặm.

* NSND Hồng Lựu, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ:

PHÁT HUY THÊM GIÁ TRỊ CỦA DÂN CA VÍ GIẶM


Hồng Lựu “Ngay từ khi sinh ra, mỗi người dân xứ Nghệ đã được “nuôi dưỡng tâm hồn” bằng những làn điệu dân ca ví giặm đằm thắm, mượt mà. Qua các làn điệu này người dân xứ Nghệ muốn quên đi những mệt mỏi trong cuộc sống lao động để đấu tranh sinh tồn với mảnh đất thiên nhiên “ưu đãi” lắm nắng, nhiều mưa.

Ngày xưa các cụ Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ... đã để lại cho chúng ta kho tàng đồ sộ với những câu hát nổi tiếng, chính vì vậy giờ đây chúng ta cần tham gia bảo tồn, phát huy thêm giá trị của dân ca ví giặm. Để làm được điều này rất cần sự tham gia của các tầng lớp trí thức vào cuộc để những câu từ, điệu ví mang tính bác học hơn, để đi theo kịp với tiến trình phát triển của xã hội”.

* Ông Hồ Đức Phớc, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An:

XÂY DỰNG BẢN SẮC VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA XỨ NGHỆ

Hồ Đức Phớc “Nhân dịp bước sang năm mới, đón Xuân Ất Mùi, thay mặt Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam tỉnh, thông qua Thời báo Tài chính Việt Nam, tôi thân ái gửi những tình cảm và lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến toàn thể nhân dân trong tỉnh cùng bà con quê hương Nghệ An đang sinh sống, học tập và làm việc ở ngoài tỉnh, cũng như những kiều bào ở nước ngoài đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn để đạt được những kết quả tích cực, góp phần tạo nên những thành tựu nổi bật về kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm qua.

Tỉnh đã phê duyệt “Đề án xây dựng Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ”, với mục đích xây dựng cơ sở vật chất của Trung tâm nhằm đảm bảo đủ điều kiện làm việc và là một trong những công trình trọng điểm văn hóa vừa mang tính dân tộc vừa có tính thời đại. Công trình với phong cách kiến trúc truyền thống giàu bản sắc riêng của khu vực Bắc Trung bộ, góp phần phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, sưu tầm, thể nghiệm, bảo tồn và phát huy quảng bá dân ca.

* Ông Vũ Ngọc Hải, nguyên Trưởng khoa Trường Đảng tỉnh Nghệ An:

 DÂN CA VÍ GIẶM ĐÃ THẤM VÀO MÁU NHIỀU THẾ HỆ

Vũ Ngọc Hải“Tôi sinh ra và lớn lên bên dòng sông La, huyện Đức Thọ -quê hương của ví Phường Vải, gốc của ví giặm Nghệ Tĩnh. Bà tôi, mẹ tôi, vợ chồng tôi đều ru con bằng làn điệu ví giặm. Dân ca ví giặm đã thấm vào máu nhiều thế hệ, thành niềm tự hào của người dân quê tôi”.











* Bà Nguyễn Thị Diễn (Tân Kỳ, Nghệ An):

DÂN CA VÍ GIẶM ĐÃ THEO TÔI ĐI SUỐT CUỘC ĐỜI

“Ví giặm thấm vào từng con người xứ Nghệ, như nước uống, cơm ăn. Hai mươi tám năm tôi làm y sỹ khoa sản ở trạm xá Thị trấn Lạt - Tân Kỳ, tôi thường hát ví giặm để động viên các phụ sản trong khi sinh đẻ. Dân ca ví giặm đã theo tôi đi suốt cuộc đời, giúp hàng trăm ca sinh đẻ được “mẹ tròn, con vuông”.







 * Ông Trịnh Ngọc Lợi, chuyên viên Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh:

TỰ HÀO VỚI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

Trịnh Ngọc Lợi“Từ năm 1998 đến nay, huyện Nghi Xuân đã đưa dân ca vào trong trường học dưới hình thức các tiết học ngoại khóa và lồng ghép vào một số tiết học dân ca địa phương. Cứ hai năm một lần, huyện Nghi Xuân lại tổ chức cuộc thi “Tiếng hát dân ca học đường” thông qua đó nâng cao chất lượng cả chiều rộng và chiều sâu trong phong trào văn hóa văn nghệ - dân ca trong nhà trường đồng thời là cầu nối để học sinh đến gần với dân ca ví giặm hơn nữa qua đó giúp các em biết trân trọng, yêu mến, tự hào với văn hóa truyền thống.o





* Ông Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An:

XỨNG ĐÁNG LÀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN CỦA NHÂN LOẠI


Nguyễn Xuân Đường “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đây là niềm vinh dự, tự hào nhưng cũng đặt ra cho chúng ta trách nhiệm nặng nề. Chúng ta đã cam kết thực hiện chương trình hành động nhằm bảo tồn loại hình dân ca này và triển khai những cơ chế chính sách nhằm tôn vinh các nghệ nhân để thực hành, trao truyền và giáo dục thế hệ trẻ, sao cho ví giặm trường tồn mãi với thời gian, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Bên cạnh đó, cần phải kết hợp giá trị của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh với phát triển du lịch; tổ chức các hình thức linh hoạt để bảo tồn, góp phần tích cực vào việc phát triển bản sắc văn hóa xứ Nghệ và làm nền tảng                  vững chắc phát triển bền vững kinh tế - xã hội của                                                                                       hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh”./.

Châu Nho - Thúy Nghĩa



 TẠI PHÀ BẾN THỦY NGHỆ AN            (Thoibaotaichinhvietnam.vn Số 30/4/2014

                                Trận thủy chiến năm 1968  

                                                                    (Trích nhật ký  chiến trận: Khu IV 1 000 ngày máu lửa)

Đi qua sông Bến Thủy hôm nay với 2 cây cầu sừng sững ít ai biết rằng dưới chân cầu, lòng sông còn biết bao đồng đội của chúng ta là lính công binh, TNXP, công nhân giao thông đã nằm lại dưới lòng sông. Hơn 1000 ngày đêm bom từ trường và thủy lôi phong tỏa.
Tôi bồi hồi nhớ lại : Tháng 7 năm 1968 là cao điểm của mùa mưa lũ – không quân địch mở rộng đánh phá quyết liệt vùng “ Cán Xoong” khu IV nhằm cắt đứt tuyến giao thông thủy bộ từ sông Lam trở vào – hình thành các trọng điểm liên hoàn những tam giác lửa: Truông Bồn, Bến Thủy, Đồng Lộc -  Đồng Lộc, Kỳ Anh, Truông Bát - Sông Gianh, Minh Cầm, Đò Vàng – Sông Gianh , Minh Cầm, Xuân Sơn- Sông Gianh, Xuân Sơn, Long Đại – Khe Tang, Khe Ve, La Trọng…
Kéo dài 300km trên 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Các đơn vị bộ binh, pháo binh – Xe cơ giới vượt qua được “tam giac lửa” khu IV thì thở phào coi như tới được chiến trường.
Đã 3 ngày đêm trên tam giác Truông Bồn, Biến Thủy, ngã ba Đồng Lộc bị bom từ trường, bom nổ chậm, thủy lôi phong tỏa – Tại Đồng Lộc lực lượng rà phá bom mìn của La Thị Tám ra quân nhiều ngày nhưng chưa thông xe, tại Truông Bồn đại đội TNXP 317 của tổng đội TNXP Nghệ An được chúng tôi huấn luyện đang rà phá nhưng cũng không thông được đường.
Bộ Tư lệnh Quân khu IV giao mật lệnh cho C3 D27 công binh QK4 mở đường máu tại phà Bến Thủy (Tuy trống trải nhưng địa hình rộng, dễ di chuyển bến phà). Đại đội 3 cử trung đội 1 gồm 3 tiểu đội tác chiến tại phà Bến Thủy mở đường cho 2 trung đội lắp ghép phà nổi đang tập kết ở phía Nam Đàn xuống phục vụ khi thông tuyến.
Được sự hỗ trợ của Ty Giao thông Nghệ An do đồng chí Nguyễn Đăng Chế phó ty đang chỉ huy đội rà phá thủy lôi và bom nổ chậm cho biết: “Hiện đang còn khoảng 150 quả thủy lôi trôi từ ngoài biển vào cửa sông Bến Thủy chưa nổ, 250 quả bom nổ chậm , bom từ trường nằm dưới lòng sông, hai bờ nam và bắc Bến Thủy, cử 30 phút lại có 2 tốp máy bay oanh tạc bằng bom bi, bom sát thương, rocket. Ban đêm pháo từ hạm đội 7 bắn vào dọc theo đường 1A”.
Trên một chiếc xe lội nước, trung đội chúng tôi có mặt tại phà Bến Thủy lúc 17h chiều, phương án tác chiến nhanh chóng được thông qua: Dùng 1 tiểu đội ‘cảm tử quân’ với hai thuyền cao su hộ tống, 1 chiếc thuyền sắt chèo bằng tay đưa 1 dây thừng phá thủy lôi và 1 dây thép rà phá bom qua sông .
Cả trung đội khi phổ biến nhiệm vụ ai cũng xung phong vào tiểu đội cảm tử quân. Đồng chí Cao Chung B trưởng phải cho điểm danh theo thứ tự : 1, 2, 3, 4, thay bằng: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Lặp lại tiếp theo từ trái sang phải, ai dành được chữ Tử thì được vào tiểu đội cảm tử quân. Kết quả 24 đồng chí trong trung đội có 6 đồng chí :
Là Lê Duy Ý(Y tá), Doãn Dần, đồng chí Dân (Dân Đen) đồng chí Hương và đồng chí Thiện lái ca nô, Trần Ngọc Mật sau này ( anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân)
Khi tiểu đội chúng tôi ra giữa sông thì gặp 3 quả thủy lôi (chạm nổ) nổ bay thuyền cao su đi trước 2 đồng chí bị thương được đưa lên thuyền cao su phía sau . Do kích nổ theo dây chuyền 8 quả bom dưới đáy sông cùng nổ mặt sông sáng lòa trong đêm tối, sóng dâng cao 6 mét – làm lật thuyền sắt, tiểu đội nhanh chóng đưa dây và thương binh lên thuyền cao su vừa bơi vừa đẩy sang bờ nam, vừa chạm bờ nam thì 2 loạt bom bi nổ dọc theo bờ sông, thêm 1 đồng chí bị thương, chúng tôi bắn pháo hiệu thông tuyến cho con phà dã chiến chở chuyến đầu tiên từ bờ Bắc sang bờ Nam. Lúc 2 giờ 30 phút sáng.
Bắt được phi công nhưng bị kỷ luật:
Máy bay trinh sát thấy tín hiệu thông phà chúng dùng 6 tổ tiêm kích thả bom xuống 2 bờ, pháo cao xạ 12 ly bảy trên núi Quyết bắn cháy 1 máy bay sáng rực cả bầu trời, trong ảnh pháo sáng tôi phát hiện có dù phi công rơi ở Bãi Nổi giữa sông gần bờ Nam.
Tôi lệnh cho đồng chí Dân chèo thuyền cao su cùng 1 khẩu AK nhanh chóng tiếp cận bãi nổ nơi có đèn tín hiệu lóe sáng, 4 tốp máy bay vây xung quanh bãi nổi bắn rốc két thả bom uy hiếp để bảo vệ phi công. Tôi và đồng chí Dân lọt vào vòng vây bom của địch áp sát phi công cách 100 mét thì nó phát hiện và dùng súng ngắn bắn về phía chúng tôi và nó bắn luôn 2 phát pháo hiệu lên trời để gọi trực thăng xuống cứu. Tôi bắn 3 loạt AK về phía phi công và nó bắn tiếp về phía chung tôi cho đến khi súng của phi công hết đạn,chúng tôi ala sô vào bắt trói lại bằng dây dù.
Tôi cho đồng chí Dân để đèn tín hiệu sáng ở giữa bãi nổi đánh lừa trực thăng, còn phi công đưa lên thuyền cao su đẩy về phía hạ lưu. Đồng chí Dân bảo tôi bắn chết phi công cho nó trôi sông nhưng tôi không cho vì đây là nhân chứng chiến tranh, chúng tôi giao phi công cho dân quân xã Hương Dũng lúc 4 giờ sáng và trở về bến phà làm nhiệm vụ sơ tán và cất dấu phà. Chuyến phà cuối cùng cấp vào bờ bắc thì 1 loạt bom tọa độ nổ, đồng chí Hương quê Hương Khê Hà Tĩnh đang kéo dây phà hy sinh tại chỗ còn tôi thì bị thương vào lưng phải đi cấp cứu. Tại bờ Nam đồng chí Súy quê Nam Hà hy sinh vì bom nổ chậm.
Khi đang nằm điều trị tại viên 4 tôi nghe thông báo của tiểu đoàn đề nghị tặng huân chương chiến công cho tiểu đội cảm tử quân và kỷ luật cảnh cáo 2 đồng chí đi bắt phi công (vì bỏ nhiệm vụ kéo phà khi chưa có lệnh của trên). Tuy bị kỷ luật nhưng chúng tôi rất vui vì đã kịp bắt phi công trước khi trực thăng của Mỹ đến cứu
Và 8 đồng chí trong tiểu đội cảm tử quân được chia 8 mảnh vải dù (chiến lợi phẩm của phi công) gửi về cho người yêu ở hậu phương.
                                                                                                               Châu nho
"Lời trăng trối - Gửi người yêu"

                                                       (đã in Thoibaotaichinhvietnam.vn. báo vietnamnet.báo Congly.com)
(TBTCO) - Mỗi lần đến ngày 27/7, ký ức chiến trường lại chợt ùa về. Tôi giới thiệu bài thơ này thay 1 nén hương gửi viếng hương hồn liệt sỹ và báo cho anh biết: Lời trăng trối của anh tôi đã chuyển thể thành thơ, dù thất lạc mất 34 năm, nhưng bài thơ đã đến tay người anh yêu...



                                                   Ảnh minh họa. Nguồn giaoduc.net.vn


Tổng tiến công mùa xuân 1968, đại đội công binh chúng tôi được giao nhiệm vụ mở đường giữ chốt một cứ điểm gần đường 9. Sau 3 ngày quần nhau với địch, đại đội hy sinh gần hết 3 trung đội, còn lại 1 tiểu đội 9 người, 4 người bị thương nặng.

Đêm thứ 3 kiểm tra lại quân số và hậu cần chỉ còn 6 miếng lương khô, nước uống không còn, đường xuống suối bị địch chặn lối, lựu đạn còn 2 quả, cơ số đạn 2 băng AK. Toàn đơn vị bị cô lập, quân chi viện không lên chốt được vì lực lượng địch quá mạnh, pháo kích liên tục, cầm canh kéo dài thời gian chờ trời sáng. Chúng tôi nhận được lệnh bằng pháo hiệu rút quân. Phương án đưa ra là: Hai đồng chí dùng AK bắn từng phát một kéo địch về hướng nam. Ba đồng chí dùng lựu đạn, dao găm và lưỡi lê đánh gần mở đường máu, theo sau là 4 đồng chí cõng 4 thương binh rút về hướng Tây. Một giờ sáng súng nổ phía Nam, địch dồn quân và pháo kích theo hướng nam của cứ địểm. Ba đồng chí mở đường thì 2 đồng chí bị thương còn 1 đồng chí và Tôi dùng lựu đạn diệt tổ phục kích đưa được 4 thương binh xuống núi, lẫn vào rừng theo hướng tây được chừng 2km thì gặp được 1 tiểu đội của ta chi viện.

Vì mất máu quá nhiều nên 3 thương binh đã hy sinh còn lại trung đội trưởng trong cơn hấp hối. Trời tối, mưa dầm Trường Sơn làm cho khói bom đạn chìm xuống, không khí im ắng và tịnh mịch, sau khi hội ý chúng tôi quyết định để lại 1 đồng chí xem chừng chăm sóc trung đội trưởng. Tôi bị thương vào vai nên  ở lại trông thương binh còn các đồng chí khác và tiểu đội chi viện trở lại chốt tìm 2 đồng chí bị thương.

Lúc này vào khoảng 3 giờ sáng, bỗng nhiên Trung đội trưởng hồi tỉnh nằm ngửa mặt lên trời nói chuyện với người yêu trong cơn mê sảng (Tôi lắng nghe lời anh nói chuyện với người yêu: “anh rất nhớ em, từ cái đêm trăng hò hẹn ở quê… và cô ấy là 1 giáo viên… anh hẹn cô ấy anh đưa cô ấy lên mặt trăng dạy các em nhỏ ở trên đó học. Cô ấy đẹp lắm như một nàng tiên, mặt đẹp như mặt trăng, trên mặt trăng đang xây các thành phố, thay làng mạc cũ xưa. Anh sẽ cưới em ở trên đó và anh đang lên trước đây-anh đang bay lên vũ trụ đây”. Rồi anh lịm đi - tắt thở).

Tôi nhớ như in lời trăng trối cuối cùng của anh và trong đầu tôi lúc này đang hình thành 1 vài câu thơ mang máng ý của anh. Trời mưa, tối, không giấy bút Tôi đã tháo lưỡi lê ra và viết lên báng súng gỗ mấy chữ: Cô giáo - lên mặt trăng, cưới nhau và tôi cũng lịm đi trong giấc ngủ mệt nhọc và đau vì viết thương.

Trời vừa sáng, tiếng pháo kích làm tôi choàng tỉnh, cũng là lúc đơn vị chuyển 2 đồng chí thương binh ra tiếp tục rút về hướng tây thêm khoảng 3km thì có trạm xá dã chiến. Thương cảm trước cuộc tình ấy tôi đã xúc động viết. Viết bài thơ lên giấy ghi bệnh án của trạm xá và đọc cho đồng chí Trần Hữu Bé chép lại (bản chép đó do đồng chí Bé giữ, sau 34 năm gặp lại đại tá Trần Hữu Bé -chủ nhiệm khoa chiến thuật và đại tá Phan văn Luyện giảng viên Trường Sỹ quan công binh trao lại bài thơ cho tôi).

Tôi đã cầm bài thơ này tìm cô giáo người yêu của anh theo địa chỉ đóng quân ngày xưa ở Hưng Đạo - Hưng Nguyên - Nghệ An. Khi tin anh hy sinh chị đã lấy chồng và đã có 2 con, nhưng anh chồng đã chết vì bệnh. Một đứa con trai đã vào lính công binh ở đoàn Hải Vân - QK4.

Bài thơ ám ảnh tôi mỗi lần đến ngày 27/7, mỗi lần tôi đọc lại bài thơ này, hồn liệt sỹ cứ ẩn hiện trước mắt Tôi để nghe và Tôi đã viết tiếp bài thơ “Chiều tháng 7” nối lại 1 cuộc tình đã hòa vào chiến tranh như hàng triệu cuộc tình khác.

Bài thơ ấy được nhà thơ Nguyến Khắc Thạch, nguyên TBT Tạp chí Sông Hương và Tạp chí Văn nghệ Quân đội đăng tải năm 2000. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã sửa chữa lại đề: “Lời liệt sỹ = gửi người yêu”. Trong lần tôi đọc thơ trên VTV1 nhờ nghệ sỹ Ngọc Thọ đã trình bày bài thơ này nhân ngày 27/7.

Tôi giới thiệu bài thơ này thay 1 nén hương gửi viếng hương hồn liệt sỹ và báo cho anh biết: Lời trăng trối của anh Tôi đã chuyển thể thành thơ gửi về cho người yêu anh rồi. Tuy bị thất lạc 34 năm, dẫu rằng có muộn nhưng cũng đã tới tay người anh yêu
Năm 2008 đài truyền hình nghệ an ( do anh LỘC nsut trưởng ban Văn nghệ cùng hồng Nhung ,Văn Hiếu .Xuân Lâm, văn Thuần đưa bài thơ này dàn dựng thành bộ phim  rất xúc động .đi dự liên hoan phim việt nam.

Thời báo Tài chính Việt Nam trân trọng giới thiệu bài thơ “Lời trăng trối - Gửi người yêu”.

Bài thơ của 2 tác giả: Ý thơ của liệt sỹ - Lời thơ Thanh Châu, nay là nhà thơ Châu Nho.

                                                GỬI NGƯỜI YÊU

                   
                                    Chiều vàng trôi
                                   Mặt trời về khép cửa Trường Sơn
                                   Anh ngắm biên cương
                                    Bâng khuâng nhớ chiều quê hương

                                                    ***
                                      Chiều vàng trôi
                                     Không níu lại được thời gian
                                    Riêng anh giữ mãi chiều gặp em
                                    Núi trở mình, rừng buông màn đêm

                                                     ***
                                    Và bây giờ sau lưng núi trăng lên
                                    Trăng đầu tháng lặng yên không nói
                                    Trăng yếu ớt xua chiều đi vồi vội
                                    Trăng hiểu rằng: Từ đây anh xa em

                                                    ***
                                     Nhớ nhau nhiều là buổi đầu tiên
                                     Khi anh nói lời yêu
                                     Em thẹn thùng cúi mặt
                                     Trăng bẽn lẽn sau vòm cây ẩn nấp
                                      Em nhìn anh. Ôi! Gương mặt trăng đầy

                                                    ***
                                    Trăng rắc vàng trên mái tóc mây
                                      Trời lấm tấm những vì sao xa lắc
                                      Một dải ngân hà mờ sáng bạc
                                      Ngưu lang chức nữ có gần nhau

                                                    ***
                                      Trên sao xa cũng sẽ có người
                                      Những làng mạc thay bằng thành phố
                                      Mái trường xinh với đàn em nhỏ
                                      Hát sau giờ ra chơi

                                                    ***
                                      Âm thanh xa anh không rõ ý lời
                                      Vọng tiếng nhạc khoảng không vũ trụ
                                      Và dáng dấp những người thiếu nữ
                                      Cô giáo Lào – nàng tiên hay là em?

                                                      ***
                                      Đồng đội và anh thức với màn đêm
                                      Súng gác sao trời hiện mảnh trăng đầu tháng
                                      Anh ngỡ mình bay ra ngoài giới hạn
                                      Đến một vì sao xa – nơi ấy – có em yêu!

                                                                  Lời liệt sỹ và Nguyễn thanh Châu (Châu nho)    1968